Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm – Hội KHTLGD Việt Nam
TLGD – Trước hết chúng tôi hết sức hoan nghênh, cảm ơn Viện nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục và Tạp chí Giáo dục Việt Nam đã có sáng kiến tổ chức Hội thảo khoa học “GS.VS. Phạm Minh Hạc với sự nghiệp khoa học giáo dục” nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 90 năm ngày sinh của GS.VS. Phạm Minh Hạc. Đây có thể là dịp tốt nhất để những học trò cần mẫn như chúng tôi có điều kiện bày tỏ tấm lòng biết ơn, tri ân vị ân sư của mình.

GS. TSKH. VS. Nhà giáo nhân dân Phạm Minh Hạc – người có công lớn đào tạo, huấn luyện các nhà tâm lý học quân sự Việt Nam từ bước khởi đầu nhằm xây dựng chuyên ngành Tâm lý học quân sự Việt Nam.
Thầy Phạm Minh Hạc không chỉ là nhà khoa học đầu ngành, “cây đại thụ” về nghiên cứu KHTLGD của Việt Nam và Thế giới, thầy còn là nhà quản lý cấp cao của giáo dục Việt Nam: từ Viện trưởng Viện khoa học giáo dục Việt Nam; Bộ trưởng bộ giáo dục, ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban khoa giáo Trung Ương … Tôi tự nhận không đủ thông tin, không đủ trình độ để tham gia tôn vinh đánh giá những công lao to lớn của Thầy với nền KHTLGD Việt Nam, với nền giáo dục Việt Nam nói chung. Tôi chỉ xin làm một việc ghi lại dấu ấn những việc làm hết sức ý nghĩa của Thầy trao truyền tri thức KHTLGD và nhiệt tâm dìu dắt những thế hệ học trò tiếp nối gieo trồng những minh triết KHTLGD để đóng góp cho sự nghiệp trồng người, sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho mỗi giai đoạn phát triển của công cuộc cách mạng phát triển đất nước Việt Nam.
Do đó trong báo cáo này của mình, tôi xin tập trung làm rõ:
- Con đường tầm sư học đạo tâm lý học đường
- Tiếp nối gieo trồng những minh triết của thầy về KHTLGD Việt Nam.
- Bài học về cây đời mãi mãi xanh tươi
- Con đường tầm sư học đạo tâm lý học đường
Tôi vốn chỉ là một cử nhân ngữ văn PTTH chẳng biết gì về KHTLGD thế nhưng gần 60 năm theo đuổi sự nghiệp trồng người tôi đã bước được vào ngôi đền của KHTLGD, tôi không nhớ tác giả nào, sách vở nào đã nói về mỗi người muốn thành công phải có đủ ba nhân tố:
- Phải có một gia đình ổn định hạnh phúc
- Phải có những người bạn chí cốt
- Phải gặp được những người minh sư
Tôi có một chút thành công trong cuộc sống và cũng may mắn có đủ ba yếu tố căn cốt đó.
Tôi chỉ nêu những may mắn của mình gặp được nhiều minh sư, những người thầy trí tuệ, tài năng tâm huyết, trao truyền không chỉ trí thức mà điều quan trong khích lệ, dẫn dắt mình vững vàng hơn trong cuộc sống.
Thực ra phải hiểu “minh sư” ở đây không chỉ là những ông thầy cụ thể mà môi trường sống, những nơi công tác gắn bó với ta; Nói một cách khái quát cuộc sống thực tế hằng ngày luôn cho ta những bài học kinh nghiệm sống, nơi chúng ta khẳng định những giá trị bản thân ngay cả những khi thất bại cũng cho ta những bài học dẫn ta đến thành công. Tôi rất biết ơn những nơi mình được sống làm việc và cống hiến như Trường PTTH Cao Bá Quát – Gia Lâm, Hà Nội (12 năm), Công đoàn ngành giáo dục Hà Nội (21 năm), đặc biệt trường PTTH Đinh Tiên Hoàng – Ba Đình (35 năm); Hội Tâm lý giáo dục Hà Nội; Hội Khoa học – Tâm lý giáo dục Việt Nam (35 năm); Liên Hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Hà Nội (35 năm). Mỗi một môi trường công tác tôi đều có thêm những người bạn chí cốt, đều là những nơi tôi được gắn bó trưởng thành góp được những giá trị bản thân, mỗi nơi đều mang lại cho tôi một minh sư dẫn dắt tôi trưởng thành trường. Trường PTTH Cao Bá Quát – Gia Lâm, Hà Nội, trường là lá cờ đầu của ngành giáo dục miền Bắc sau thống nhất, trở thành lá cờ đầu của giáo dục cả nước từ năm 1971 đến năm 1985 (15 năm). Năm 1976, tôi được đề bạt làm Hiệu phó trường cấp ba Cao Bá Quát và năm đó tôi cũng được giải A sáng kiến kinh nghiệm của Thành phố, năm 1978 được đi dự hội nghị sáng kiến khoa học toàn quốc ở Quy Nhơn và cùng năm đó tạp chí KHGD của Viện KHGD đăng bài “Dạy may, dậy người” của tôi. Đây là bước chân đầu tiên của tôi vào lĩnh vực KHGD theo PGS.TS. Đặng Quốc bảo kể lại khi bài báo khoa học đầu tiên của tôi “Dạy may, dậy người” được đăng trên tạp chí khoa học giáo dục năm 1978 GS. Phạm Minh Hạc lúc đó là Thứ trưởng Bộ GDĐT, kiên Viện trưởng Viện KHGD VN và GS. Hà Thế Ngữ, Viện phó Viện KHGD VN đã ủng hộ và biểu dương bài viết của tôi trước Viện KHGD Việt Nam. Tôi cảm ơn anh Đinh Quang Sửu, biên tập viên của tạp chí đã giúp tôi chỉnh sửa bài viết theo đúng yêu cầu của một bài báo khoa học theo những tiêu chí mà Viện KHGD Việt Nam yêu cầu.
Khi tôi về làm Chủ tịch Công đoàn GD Hà Nội, Ban chấp hành Công đoàn giáo dục Hà Nội có sáng kiến đề xuất khẩu hiệu cho các nhà trường Hà Nội những năm từ 1985 đến 1995 là “Kỷ cương – tình thương – Trách nhiệm” và Cuộc thi “Cô giáo tài năng, duyên dáng của Hà Nội”, sau đó được Bộ GDĐT và Công đoàn GD Việt Nam lấy làm khẩu hiệu của các nhà trường trong toàn quốc từ đó đến nay và cứ 5 năm lại tổ chức cuộc thi “Cô giáo tài năng, duyên dáng” một lần. Nhờ đi tổng kết phong trào vận động “Kỷ cương – tình thương – Trách nhiệm”, cũng như tham gia biên soạn những tình huống sư phạm cho các cô giáo từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT nên tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm ứng xử sư phạm của giáo viên Hà Nội, đồng thời cũng phát hiện và có niềm tin vào đội ngũ nhà giáo Hà Nội có nhiều người tài năng, tâm huyết, sáng tạo nên tôi đã mạnh dạn đề xuất với Thành phố cho mở Trường dân lập thứ hai của Hà Nội sau Trường THPT Lương Thế Vinh của thầy Văn Như Cương, nhưng để giúp đỡ những học sinh gặp khó khăn của học sinh THPT Hà Nội. Trường Đinh Tiên Hoàng là môi trường để tôi tập hợp những thầy, cô giáo tài năng, tâm huyết, sáng tạo của Hà Nội thí điểm thành công mô hình giáo dục đặc biệt. Khi có trường Đinh Tiên Hoàng tôi mới được PGS.TS. Đặng Quốc Bảo – Hiệu trưởng trường CBQLGD, PGS.TS. Đỗ Văn Chấn – Trưởng phòng NCKH của Trường CBQLGD làm chủ nhiệm lớp cao học QLGD khóa I (1995 – 1997) tạo cho tôi theo học. Quá trình học tôi lại được học nhiều thầy cô nổi tiếng của các Trường ĐH như PGS.TS. Thành Thế Thái Bình – Hiệu trưởng Trường ĐH sư phạm Xuân Hòa, PGS. Nguyễn Xuân Huy, PGS. Hà Nhất Thăng – Viện KHGD, PGS. Phạm Văn Tảo – Trợ lý Bộ trưởng là người hướng dẫn tôi khóa luận tốt nghiệp, đây là những ân sư không chỉ giúp tôi hoàn thành chương trình cao học QLGD xuất sắc để tôi được là một trong ba học viên của lớp làm tiếp chương trình tiến sĩ giáo dục học ở ĐH sư phạm Hà Nội do thầy PGS.TS. Nguyễn Văn Lê làm chủ nhiệm, PGS.TS. Đặng Quốc Bảo là người hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi với đề tài “Phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của học sinh PTTH Hà Nội hiện nay”. Hoàn thành luận án tiến sĩ, tôi đã bước được vào ngôi đền thiêng của những nhà nghiên cứu KHTLGD Việt Nam. Trong suốt thời gian tôi học cao học, hay thời gian tôi làm NCS, tôi chưa được một lần vinh dự nghe trực tiếp thầy Phạm Minh Hạc lên lớp nhưng với thầy Hạc luôn là ân sư của tôi; Thầy luôn thầm tặng tôi những sách mới trong những công trình của thầy khi được xuất bản, đặc biệt Thầy luôn ân tình chỉ bảo cho những điều tôi còn băn khoăn khi vận dụng KH TLGD vào thực tế đời sống học đường hoặc khi tôi triển khai ở Trường Đinh Tiên Hoàng, cũng như qua những Hội thảo khoa học của Viện KHGD VN, của Hội KHTLGD VN mà tôi được vinh dự tham gia viết bài. Tôi được tham gia mọi hoạt động khoa học của Hội TLGD VN do thầy Phạm Minh Hạc làm chủ tịch và sau này PGS.TS. Trần Kiều là người kế tục sự nghiệp của thầy Phạm Minh Hạc. Hội KHTLGD VN cũng là ngôi đền giúp tôi có kiến thức về KHTLGD, đặc biệt tạo cho tôi có môi trường thực hành để tôi sáng tạo, giải quyết những vấn đề thực tế cuộc sống phong phú, đa dạng của KHGD Việt Nam trên mỗi bước đường phát triển. Với sự nghiệp khoa học và sự cống hiến lớn lao của GS.VS.NGND Phạm Minh Hạc, tôi chỉ là một học trò nhỏ, những nguyện tiếp tục gieo trồng, những minh triết về KHGD của Thầy đã đóng góp, thành những “cây đời mãi mãi xanh tươi”.
- Tiếp nối gieo trồng những minh triết của Thầy Phạm Minh Hạc về KHGDVN.
Như mở đầu bài viết này, tôi đã tự nhận “Tôi không đủ thông tin, không đủ trình độ, không đủ thời gian để tham gia đánh giá những công lao to lớn của Thầy Phạm Minh Hạc cho nên KHGD VN, cho sự nghiệp phát triển GD VN”, tôi chỉ với tư cách người học trò nhỏ có được những thu hoạch thực tế khi được tiếp xúc với những công trình nghiên cứu KH của Thầy đã được công bố. Tôi đã đem tri thức thầy trao truyền và phát triển nó trong thực tiễn với đúng tinh thần “Tiếp nối gieo trồng những minh triết của Thầy Phạm Minh Hạc” trong đời sống thực tế học đường. Tôi cũng chỉ xin đưa một số mình chứng tôi đã thật sự vận dụng thành công trong thực tế công tác nghiệ cứu KHGD của mình.
2.1. Phát triển mô hình nhân cách con người Việt Nam
Khi làm luận án tiến sĩ với đề tài “Phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của học sinh PTTH Hà Nội hiện nay” tôi đã được tiếp cận với 3 tài liệu quí của GS.VS. Phạm Minh Hạc công bố năm 2001, đó là:
- “Về con người trong công cuộc đổi mới” Thuộc đề tài KX07
- “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH-HĐH” (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2001)
- “Về phát triển con người đi vào CNH-HĐH” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2001)
Tôi đã vận dụng những nhận định của GS. Phạm Minh Hạc trong đề tài “Về phát triển con người đi vào CNH-HĐH”
Phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH thì mô hình nhân cách đó là một nhân cách phát triển toàn diện. Một nhân cách gắn bó nhịp nhàng, hài hoà giữa 3 mặt: Nội tâm thống nhất, lành mạnh, ổn định, tích cực; Quan hệ với người khác một cách nhân ái, hữu nghị hợp tác; Quan hệ với công việc và sự nghiệp một cách say mê và nhiệt tình, thích ứng và sáng tạo, hiệu quả và thành đạt [tr.104].
Chúng tôi thêm con người cần gắn bó với môi trường sống con người cũng phải biết tôn trọng, bảo vệ, tạo sự cân bằng hài hoà với môi trường.
Có thể minh hoạ các quan niệm trên đây về mô hình nhân cách bằng hình vẽ:
Đối chiếu mô hình phát triển toàn diện nêu trên với sự phát triển nhân cách của học sinh yếu kém đạo đức ta thấy rõ: Bản thân học sinh yếu kém đạo đức về nhận thức thường thiếu hụt, sai lệch; về tình cảm không lành mạnh; thất thường có nhiều biến thái; về hành vi không nhất quán và thường không kiểm soát được. Đúng như tác giả Phạm Minh Hạc đã nhận xét:
“Sự phát triển hài hoà tâm lý bên trong: nhu cầu và động cơ, hứng thú sở thích, trí tuệ tài năng, nhân sinh quan và quan niệm giá trị, lý tưởng và niềm tin. Sự thống nhất giữa lời nói và hành động, việc có thể nhận thức đúng đắn và đánh giá mọi hành vi của mình có phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội hay không – điều đó có thể điều chỉnh kịp thời quan hệ giữa cá thể và thế giới bên ngoài. Một người nếu mất đi tính thống nhất nội tại trong nhân cách của mình thì sẽ xuất hiện tình trạng sai lệch về nhận thức, biến thái về tình cảm và không kiểm soát được về hành vi.” [tr.105]
Như vậy, học sinh yếu kém về đạo đức là những học sinh đã để mất đi “tính thống nhất nội tại trong nhân cách của mình”. Chúng thường không làm nổi việc “Điều chỉnh kịp thời quan hệ giữa cá thể và thế giới quan bên ngoài”.
Chúng tôi rất mừng mô hình phát triển nhân cách của thầy trò chúng tôi đã được hiện thực hoá trong chương trình giáo dục PT 2018 thông qua hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp, được bố trí từ lớp 1 đến lớp 12 theo tinh thần bám sát 4 trụ cột: Tìm hiểu bản thân; Tìm hiểu về người khác; Tìm hiểu về nghề nghiệp; Tìm hiểu môi trường tự nhiên xã hội.
Ở trường Đinh Tiên Hoàng chúng tôi cũng tổng kết thành công “mô hình phát triển nhân cách tự học tự rèn” của học sinh Đinh Tiên Hoàng theo mô hình “cây phát triển nhân cách tự học tự rèn” được bám sâu bởi cội rễ những chương trình giáo dục hàng năm: giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỷ luật tích cực, giáo dục “5 Tự” và “Văn hoá phát triển bản thân” để cái cây đơn hoa kết quả theo 4 trụ cột của UNESCO: Học để biết – Học để làm – Học để cùng chung sống – Học để làm người.
2.2. Phát huy triết lý giáo dục “Giá trị bản thân”
Từ năm 1991 GS. Phạm Minh Hạc được nhà nước giao làm chủ nhiệm 3 chương trình khoa học cấp nhà nước KX07, KHXH-04 và KX-05. Đến năm 2010 đã hoàn thành cuốn sách “Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung con người Việt Nam thời nay”. Từ những nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu “Giá trị bản thân” là một đóng góp rất lớn cho việc chúng ta phát triển một nền giáo dục nhân văn, tập trung cho sự phát triển con người từ lọt lòng mẹ, đến khi trưởng thành, đóng góp lợi ích, giá trị cho xã hội, cho bản thân, cho gia đình.
Giáo sư đã chỉ ra những giá trị chung, nội dung của giá trị bản thân:
1) Giá trị nhân loại, giá trị toàn cầu
2) Chân, thiện, mỹ – là ba giá trị phổ quát
3) Giá trị sống còn: giá trị quan trọng nhất của quyền sống
4) Lao động là giá trị gốc
5) Trách nhiệm xã hội – Giá trị cao quý nhất
6) Giá trị gia đình
7) Giá trị quyền công dân, quyền con người
Từ quan niệm về những giá trị chung mà mỗi người trong mọi hoạt động, trong quá trình trưởng thành, Giáo sư lại nhấn mạnh:
- Ba thành tố lớn của giá trị bản thân: Tâm lực – Trí lực – Thể lực
- Bốn thành tố cụ thể của giá trị bản thân phải có
4 – Cống hiến
3 – Hưởng thụ
2 – Hoạt động
1 – Tồn tại
Tác giả lại phân tích rõ 4 yếu tố cơ bản tác động lên sự hình thành giá trị bản thân là: Nhà nước, Nhà trường, Gia đình và người học. Đặc biệt về người học tác giả nhấn mạnh: “Ở đây như đã viết, có 3 khái niệm chỉ 3 quá trình (1) hình thành; (2) phát triển; (3) phát huy là phạm trù rất quan trọng trong giáo dục và tâm lý học, có nội dung khá phong phú với từng lứa tuổi, trong từng hoàn cảnh, lại tuỳ theo từng cá thể, mỗi quy trình lại diễn biến theo qui luật riêng mang những đặc điểm riêng” (tr.131 “Bàn về triết lý giáo dục Việt Nam). Làm sao để hình thành bền vững 3 thành tố lớn và 4 giá trị cụ thể của mỗi con người tự phát triển bản thân.
Quán triệt quan điểm của GS. Phạm Minh Hạc về giá trị phát triển bản thân, trường Đinh Tiên Hoàng không chỉ xây dựng mô hình cây “Tự học, tự rèn” của học sinh Đinh Tiên Hoàng để phát triển nhân cách mà nhà trường đã tập trung rèn học sinh phong cách sống “5 Tự” và xây dựng “Văn hoá phát triển bản thân” theo công thức độc đáo của nhà trường.
- Phong cách sống “5 Tự”
1) Tự học sáng tạo
Mỗi học sinh đến trường đều phải tìm ra cách tự học sáng tạo phù hợp với năng lực sở trường của mỗi học sinh, duy trì nó trong suốt cuộc đời.
+ Thích học: Chủ động, tích cực tự học; Có niềm tin: Học không khó; Luôn liên hệ với thực tế và tìm được hứng thú trong học tập.
+ Biết cách học: có mục tiêu, kế hoạch học tập; Chú ý nghe giảng, biết ghi chép; Tham gia thảo luận, phản biện; Dùng sơ đồ tư duy trong học tập; Áp dụng kiến thức vào đời sống.
+ Có thói quen học: Hoàn thành mọi nhiệm vụ học tập; việc hôm nay không để ngày mai; học mọi lúc, mọi nơi; Liên hệ bài học với đời sống
+ Học có hiệu quả: Luôn tự đánh giá kết quả học tập theo các mức: Nhớ – Hiểu – vận dụng kiến thức; Điều chỉnh kế hoạch; Chọn phương pháp học phù hợp với bản thân. Tự rút ra bài học để giúp việc tự học hàng ngày có hiệu quả.
Thành công trong học tập chỉ đến với mỗi người khi có ý chí quyết tâm, kiên trì nỗ lực thường xuyên vượt qua những khó khăn trở ngại, những thử thách để hoàn thành từng nhiệm vụ cụ thể.
+ Phải lựa chọn được những phương pháp học tập phù hợp với bản thân
+ Điểm số chỉ là tiêu chí tham khảo, mục tiêu và đích đến trong học tập mới là quan trọng.
2) Tự chủ
Là nét nhân cách quan trọng mà mỗi học sinh phải tự xác lập mới làm chủ cuộc sống của mỗi người
+ Học sinh phải thường xuyên suy ngẫm để xác định và kiên trì theo đuổi hoài bão, ước mơ của mỗi người; trong từng năm học và hướng đến hoài bão ước mơ lâu dài của mỗi người.
+ Luôn làm chủ suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của bản thân. Có thiện chí hợp tác với mọi người để thành công
+ Có lối sống phù hợp với chuẩn mực xã hội và pháp luật; Luôn yêu thương, khoan dung, quan tâm giúp đỡ mọi người.
+ Không ỷ lại, dựa dẫm vào sự giúp đỡ của người khác (x2).
3) Tự trọng
Đây là một nét đẹp của cuộc sống, nó sẽ dẫn dắt học sinh vượt qua những khó khăn, gây được sự cảm tình quý mến của mỗi người.
+ Trọng danh dự, nhân phẩm của bản thân và tôn trọng sự khác biệt của mọi người.
+ Trung thực trong suy nghĩ, lời nói, hành động.
+ Biết xấu hổ, biết nhận lỗi, biết sửa lỗi khi mắc lỗi (x2).
4) Tự tin
Đây là khả năng khẳng định bản thân trong mọi hoàn cảnh sống, là bàn đạp dẫn đến thành công của mỗi người.
+ Luôn học tập, trau dồi kiến thức về khoa học và đời sống
+ Đánh giá đúng năng lực của bản thân, cả điểm mạnh, điểm yếu và kiên trì rèn luyện, luôn suy nghĩ thấu đáo, chín chắn và mạnh dạn nêu chính kiến của bản thân.
+ Biết vượt qua nỗi sợ hãi, thử thách, và khó khăn trong cuộc sống. Dám bảo vệ chính kiến của bản thân.
+ Không chủ quan, ngạo mạn hoặc mặc cảm tự ti (x2).
5) Tự chịu trách nhiện
Đây là một nguyên tắc sống quan trọng học sinh phải thường xuyên rèn luyện mới chiếm được lòng tin của người khác.
+ Phải luôn thực hiện nguyên tắc: Làm đúng; Làm lợi; Không làm hại; Nỗ lực làm tốt nhất công việcb đã đảm nhận hoặc được tập thể giao phó.
+ Suy nghĩ kỹ trước khi hành động; Trung thực tự đánh giá và chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân.
+ Sẵn sàng chia sẻ khó khăn với mọi người; Có ý thức vì người khác, vì cộng đồng và môi trường
+ Không đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh, dám nhận lỗi và sẵn sàng chịu trách nhiệm về những sai sót, thiệt hại khi thiếu trách nhiệm (x2).
- Văn hoá phát triển bản thân
Xây dựng “văn hóa phát triển” cho GV, HS trường THPT Đinh Tiên Hoàng
bằng công thức: Vft = đ.t.h – x2 + CĐ
Vft: Văn hóa phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tập thể
đ: động lực sống – đổi mới bản thân
t: tận tâm – tận lực – tận hiến theo tinh thần trí sáng – tâm an – thân khoẻ
h: học hỏi (học mọi lúc mọi nơi, những vấn đề gắn với cuộc sống)
hợp tác (cùng giúp nhau, chung tay hoàn thành nhiệm vụ)
hướng nghiệp
“Ham học – Ham làm – Ham tiến bộ” (Hồ Chí Minh)
x2: Trừ đi mọi hành vi XẤU XÍ: tự soi xét đánh giá, chỉnh sửa những sai sót, yếu kém bản thân.
CĐ: CỘNG ĐỒNG – phải có khát vọng cống hiến đóng góp cho cộng đồng
2.3. Học tập trải nghiệm
Chương trình hoạt động giáo dục trải nghiệm Hướng nghiệp của học sinh THPT từ lớp 1 đến lớp 12 đều dựa trên nền tảng của lý thuyết học tập trải nghiệm D.Kolb từ năm 1971. Quá trình học tập trải nghiệm phải qua 4 khâu chủ yếu: Từ kinh nghiệm cụ thể đến quan sát phản ánh, rồi đến khái niệm hoá, rồi cuối cùng đến thực nghiệm tích cực… Khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018, các trường phổ thông đều tổ chức cho học sinh học tập theo 4 khâu cơ bản này. Song trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cần làm rõ thêm quan niệm về “trải nghiệm”.
Theo từ điển “Bách khoa tâm lý giáo dục học Việt Nam” do GS. Phạm Minh Hạc chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục 2013 [tr.979-980]
“Trải nghiệm (Experience) = Thử nghiệm, kinh nghiệm…
Chỉ sự tồn tại khách quan tác động vào giác quan con người tạo ra cảm giác, tri giác, biểu tượng con người cảm thấy có tác động (đến bản thân) ta có các cảm nghiệm, thể nghiệm là các cảm nhận rõ nét để lại ấn tượng sâu sắc hơn. Từ đó rút ra được bài học gọi là kinh nghiệm.
Đó là tri thức được vận dụng vào thực tiễn đời sống và được “ăn nhập” vào nội tâm của con người… Vốn trải nghiệm (trải đời) hình thành nên thái độ và giá trị của người đó.
Trải nghiệp là cơ thể hình thành nên thái độ”
Cũng theo tác giả Phạm Minh Hạc trên góc độ phân tích giữa qui luật tâm lý học nhận thức và theo khoá học giá trị:
“Mỗi vật thể khách quan có một nghĩa nhất định; nó tác động vào ta, hướng ta “vào” hay “về” khách thể đó trong trường ý thức, lúc đó vật thể trở thành “hiện tượng”. Quá trình tâm lý hướng đích “vào”, “về” đó giúp ta nhận ra ý nghĩa (có khi nói là nghĩa và ý: “nghĩa” là thứ vốn có của sự vật, hiện tượng; còn “ý” là “nghĩa” đối với một người trong một trường hợp cụ thể) của sự vật đối với người cảm nhận, có thể đi tới khái niệm, quan điểm, thái độ – kết quả ta có cảm nghiệm, kinh nghiệm, thể nghiệm, trải nghiệm; có thể coi là cao nhất, tổng hợp nhất là trải nghiệm. Trải nghiệm, theo chiết tự, là trải qua và nghiệm thấy; còn theo khoa học giá trị, là quá trình tâm lý nhận ra ý nghĩa của vật tác động vào ta: vật thể tác động vào ta, ta cảm nhận được. – trải qua quá trình cảm nhận đó, nghiệm thấy ý nghĩa của nó đối với ta (nghiệm thấy là chủ thể đưa điều cảm nhận được và “trường tâm lý”, “trường ý thức”), nhất là khi có hoạt động với đối tượng đó, tức là đã sống thực với nó (người có vốn liếng như thế, học từ sách vở, từ trường đời, từ thực tế, học rồi đã hành …được gọi là “người hiểu đời”, “người từng trải”, “người trải đời”,…) có tri thức, hiểu biết, có cảm nhận, xúc cảm, tình cảm, hoạt động trải qua các trạng thái thoả mãn – không thoả mãn, thích thú, dễ chịu – khó chịu, hấp dẫn – không hấp dẫn có thể nhận ra cái này có giá trị – cái kia có giá trị vừa vừa, cái khác – không có giá trị, có thái độ tích cực – tiêu cực với giá trị nào đấy. Từ đó, có thái độ giá trị ta gọi trải nghiệm là cơ thẻ hình thành giá trị nói chung, giá trị bản thân nói riêng. Trong đó có vai trò của cả “cảm năng” lẫn “trí năng” trong hoạt động”.
(Trích trang 112 – 113 Bàn về triết lý giáo dục Việt Nam – Phạm Minh Hạc)
Từ sự phân tích kỹ hướng của GS Phạm Minh Hạc về “Trải nghiệm theo tâm lý học và giá trị học”, chúng tôi nghĩ chương trình GDPT 2018 phần hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp từ lớp 1 đến lớp 12 phải làm rõ khái niệm học tập trải nghiệm không chỉ để học sinh được khám phá trí thức trên cơ sở được tiếp xúc trực tiếp với những vấn đề đang hiện diện trong cuộc sống, tạo ra những giá trị, cảm xúc để hình thành kinh nghiệm sống, giá trị sống của bản thân chứ không phải chỉ thực hành trong cuộc sống là coi như đã “học trải nghiệm”.
Từ quan niệm về học tập trải nghiệm trên, chúng tôi xây dựng: “Mô hình trải nghiệp thự tiễn nghề nghiệp” cho học sinh THPT là nhằm xây dựng, tổng kết từ hoạt động thực tiễn về hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp trong quá tình thực hiện chương trình giáo dục Phổ thông 2018 của các trường THPT để khái quát thành mô hình kiểu mẫu có đầy đủ các yếu tố cơ bản có tính chất điển hình để hỗ trợ các nhà trường thực hiện quá trình trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp nhưng phải đạt yêu cầu mọi tri thức mà các em được học tập từ hoạt động trải nghiệm trên cơ sở những hoạt động thực tiễn của một số nghề nghiệp nhất định phải đạt được sự tiếp cận thực tế đời sống những nghề nghiệp mà các em mong đợi sau khi tốt nghiệp THPT và phải hình thành nên những kinh nghiệp sâu sắc, nhưng có giá trị tạo nên những thái độ tích cực về nghề nghiệp mình định theo đuổi trong quá trình lập thân lập nghiệp.
Chỉ có những kinh nghiệm sâu sắc về những nghề nghiệp cụ thể mới hình thành ở mỗi học sinh những thành tố có giá trị tạo nên những thái độ tích cực về một lĩnh vực nghề nghiệp mà các em định theo đuổi sau THPT mới giúp các em có động lực sống, dám dấn thân vượt qua những thử thách và thành công trong mỗi nghề nghiệp các em theo đuổi.
- Bài học về cây đời mãi xanh tươi
3.1. Những tình cảm sâu sắc và những lời khích lệ động viên của GS. Phạm Minh Hạc với mô hình giáo dục đặc biệt Đinh Tiên Hoàng.
Khi còn ở cương vị Bộ trưởng Bộ GDĐT, Thầy Phạm Minh Hạc đã luôn quan tâm đến sự phát triển của trường, nhưng phải đến năm 2009, kỷ niệm 20 năm thành lập trường Đinh Tiên Hoàng, GS mới có điều kiện, nghiên cứu, tìm hiều kỹ về mô hình GD Đinh Tiên Hoàng. Những ý kiến này Thầy lại kiêm tốn chỉ dưới góc độ của Hội KH TL-GD VN, mà Thầy là Chủ tịch.
Chúng tôi xin đăng lại toàn văn bài phát biểu của Thầy khi tham dự kỷ niệm 20 năm thành lập trường Đinh Tiên Hoàng:
BÀI HỌC VỀ MÔ HÌNH GIÁO DỤC ĐINH TIÊN HOÀNG
(Viết nhân dịp kỷ niệm 20 năm trường Đinh Tiên Hoàng 15/12/2009)
- Viện sĩ. Phạm Minh Hạc
Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Tâm lý – giáo dục Việt Nam
Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo
Trong phạm vi công tác của tôi hồi đó, tôi rất quan tâm ngay từ khi trường Đinh Tiên Hoàng mới ra đời, dõi theo quá trình lao động cực kỳ vất vả và đầy sáng tạo trong suốt 20 năm qua, nay đọc hai tài liệu – một Tóm tắt thành tích (tài liệu 1), một Báo cáo phân tích (tài liệu 2) – tôi thực sự cảm phục và đánh giá cao những thành tích thầy hiệu trưởng cùng với các thầy cô và các cán bộ, nhân viên nhà trường đã đạt được.
20 năm kinh nghiệm hoạt động của trường Đinh Tiên Hoàng rất có ý nghĩa đối với thực tiễn và lý luận giáo dục, đặc biệt đối với tâm lý học và giáo dục nước nhà. Chắc nhà trường đã và sẽ cùng các nhà khoa học đúc kết đầy đủ, phân tích kỹ lưỡng, rút ra các bài học. Riêng tôi, hôm nay xin phát biểu đôi điều cảm nghĩ, trước hết dưới góc độ của Hội khoa học TL-GD.
Theo tôi, kinh nghiệm (cũng có thể gọi là bài học) lớn nhất Đinh Tiên Hoàng mang lại cho nền giáo dục nước nhà là một mô hình trường PTTH “thu nhận những học sinh không được vào quốc lập hoặc đang học các trường quốc lập bị tiêm nhiễm tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật, bị các trường từ chối không cho học”(tài liệu 2). Chúng ta đều biết, dạy được các em này – không dễ một chút nào. Dễ nhất, để thoát thân (“thoát hiểm”), là loại bỏ, hay như thường nói là “đuổi”. Vấn đề đặt ra cho ngành chúng ta chính là ở chỗ làm sao dạy được đối tượng này. Đinh Tiên Hoàng đã làm được: 20 năm qua đã thu nạp hàng chục nghìn em, có năm vào đầu năm học toàn trường có tới hơn 2.000 em (tài liệu 1), với hơn 60% học sinh yếu kém về khả năng học tập văn hoá, chừng 30% – lười biếng, cẩu thả, bê tha (tài liệu 2), thế mà 9 năm đầu thế kỷ này hằng năm tỷ lệ thi đỗ tốt nghiệp đạt từ 95% – 98%, hơn 80% số đó đỗ vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường nghề. Hơn 7.000 em được như vậy – các em trở thành người lao động có đạo đức có tay nghề, từ công nhân đến kỹ sư. Nhà trường thật sự đã mang lại lợi ích lớn cho xã hội, với các gia đình và các em học sinh – khỏi nói – rất may mắn và rất hạnh phúc! Không hiểu thủ đô ta có bao nhiêu học sinh có hoàn cảnh giống các em ở đây? Có cần một (hay nhiều hơn) trường Đinh Tiên Hoàng mới nữa không? Chúng ta chờ quyết định của cơ quan quản lý. Về mặt thực tiễn, 20 năm hoạt động dạy dỗ các em đã rõ.
Về mặt lý luận, Hội chúng tôi rất hoan nghênh Đinh Tiên Hoàng là trường PTTH, có lẽ là đầu tiên và duy nhất, ngay từ đầu đã đặt ra và kiên tâm theo đuổi “nhiệm vụ nghiên cứu khoa học giáo dục” (tài liệu 1). Việc dạy và học trong trường đã gắn bó với 3 khái niệm rất cơ bản của tâm lý học và giáo dục hiện đại – hoạt động, nhân cách và giao tiếp: rất coi trọng việc “tạo động lực tự học tập, tự rèn luyện – thức tỉnh được hoài bão, ước mơ của mỗi học sinh” (tài liệu 2). Nói theo tâm lý học hoạt động, một khi tổ chức được tốt hoạt động học tập cho học sinh, nhất là ở tuổi PTTH, làm sao có được động lực nội sinh của chính các em, là bảo đảm được sẽ đi đến kết quả giáo dục mong muốn, nhằm vào mục tiêu “hoàn thiện nhân cách học sinh” (tài liệu 2). Việc tổ chức hoạt động dạy – học trong trường là một minh chứng sáng tỏ lý thuyết của khoa học giáo dục hiện đại: nhân cách hình thành bằng hoạt động, hành động. Nhà trường rất quan tâm đến quan hệ thầy trò, coi đây là một trong những nhân tố dẫn đến thành công, đúng như Uỷ ban chuẩn bị giáo dục vào thế kỷ XXI của UNESCO đã khẳng định, coi đây là vấn đề trung tâm của nhà trường trong thế kỷ mới, tức là cả hai nhân vật – nhà giáo và người học – đều là trung tâm (không phải như một số người nói “học sinh là trung tâm”), cả hai đều chung sức chung lòng xây đắp mối quan hệ tốt đẹp, tạo nên một chủ thể cùng thực hiện hoạt động dạy – học. Các thầy cô ở đây đã xác định phương châm đúng đắn là hết sức tôn trọng các em, chú trọng tinh thần tự giác của học sinh; lấy nhân cách bản thân thuyết phục các em, cùng với gia đình “Dạy con nên người” – “đào tạo những học sinh có nhân cách phát triển điều hoà, năng động, sáng tạo” (tài liệu 2). Vài năm nay ngành có phong trào “Nhà trường thân thiện, học sinh tích cực”. Bài học từ 20 năm của Đinh tiên Hoàng góp phần khẳng định trường phổ thông phải lấy việc hình thành và phát triển nhân cách, hay như bây giờ nói, phát triển người bền vững, của học sinh làm mục tiêu số một, truyền thụ cho các em cả tri thức (để nhằm vào một mục đích rất quan trọng là để đi thi) lẫn kỹ năng và thái độ (để sống cả đời làm người). Từ 2001 nhà trường đã tiến hành giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống. Nghiên cứu tâm lý học hoạt động đã đưa chúng tôi đến kết luận phải nghiên cứu giá trị học (giáo dục giá trị, tâm lý học giá trị), làm sao mỗi học sinh đều hình thành cho mình những giá trị và thái độ đúng đối với các giá trị của người khác, của xã hội, có thể vận dụng vào cuộc sống, đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội, được cộng đồng công nhận, đánh giá, trọng dụng.
Có thể nói, hơn 7.000 con người tốt nghiệp trung học Đinh Tiên Hoàng, đi học tiếp và vào đời là những giá trị của chính các em, bố mẹ các em, và cả cộng đồng xã hội. 20 năm bước đầu đúc kết thành những bài học, tạo nên một mô hình có thể đem áp dụng rộng rãi. Thay mặt Hội các khoa học tâm lý – giáo dục Việt nam, tôi nhiệt liệt chúc mừng các thành tích xuất sắc của trường Đinh Tiên Hoàng đã đạt được trong 20 năm qua!
Hà nội ngày 15-12-2009
(Trích Kỷ yếu 30 năm thành lập trường Đinh Tiên Hoàng)
Trường Đinh Tiên Hoàng sẽ mãi mãi đi theo lời dạy của Thầy Phạm Minh Hạc: “Nghiên cứu tâm lý học hoạt động đã được chúng tôi đều kết luận phải nghiên cứu giá trị học (giáo dục giá trị, tâm lý học giá trị) làm sao mỗi học sinh phải hình thành cho mình những giá trị và thái độ đúng đối với các giá trị của người khác, của xã hội, có thể vận dụng vào cuộc sống, đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình, xã hội, được cộng đồng công nhận, đánh giá, trọng dụng”.
3.2. Những bài học thực tế khi triển khai Tâm lý giáo dục trong các trường học hiện nay.
Thầy Phạm Minh Hạc không chỉ sâu sắc khi nghiên cứu GD, Thầy luôn ân tình hỏi han, chia sẻ với chúng tôi những khó khăn vướng mắc của ngành GD hiện chưa tháo gỡ; “vì sao các trường phổ thông không được tự chủ, những trường công được trao quyền tự chủ để xây dựng trường chất lượng cao thì Nhà nước lại rút tiền chi thường xuyên để các trường công lại phải thu tiền cao hơn trường tư. Vai trò nhà giáo trong mỗi nhà trường là quan trọng, Nghị quyết TƯ số 29/TW cho phép nhà giáo được hưởng lương cao nhất trong các bậc lương hành chính sự nghiệp nhưng hơn 10 năm nay các cơ quan của Chính phủ có ai đứng ra tổ chức thực hiện….”
Thầy Hạc cũng luôn nhắc chúng tôi trong mọi hoạt động giáo dục phải cố gắng chủ động, sáng tạo nhưng phải gắn với thực tiễn, có phù hợp với thực tiễn hay không.
Tôi còn nhớ trong cuộc vận động các nhà trường phải có “Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”, một cô giáo chủ nhiệm của một trường THPT ở Hà Nội khi tham gia tổng kết 5 năm cuộc vận động này đã có một kết luận mà chúng tôi, ban chỉ đạo của Thành phố phải suy ngẫm; cô giáo kết luận: “Trong nghề dạy học của chúng ta không có thua và thắng, chỉ có ân hận và tự hào mà thôi”, và cô đã kể đầu đuôi câu chuyện khi cô còn trẻ, mới ra trường, học sinh lớp cô có mấy học sinh đốt pháo, nhưng không tìm ra học sinh nào. Với nhiệt tâm của tuổi trẻ cô đã tìm được những học sinh đốt pháo. Nhưng những em này đều bị đuổi học vì nhà trường đã qui định. Sau một số năm khi học sinh của cô đã ra trường, thì lớp cô có tổ chức họp lớp và mời cô tham dự. Có 3 em lớp 11 bị đuổi học vẫn quay về hợp lớp vì các em này còn tiếp tục học lớp bổ túc văn hoá. Có 1 học sinh không quay lại họp vì en này không xin được học bổ túc văn hoá, nhà nghèo em phải đi học nghề. Chính học sinh này không đốt pháo mà em chỉ nhận để chịu kỷ luật thay các bạn. Nến bây giờ, tôi sẽ đồng tình với các em không báo cáo với nhà trường mà giáo dục các em, hay có trường dùng kỷ luật “đuổi treo” các em nhưng vẫn cho các em học để giáo dục.
Cũng như Đinh Tiên Hoàng chúng tôi hiện nay đang mắc két. Tuy đây là mô hình không chọn lọc đầu vào, chúng tôi không phải kén chọn học sinh khá giỏi mới cho vào học, nhưng hiện nay ở THCS, nhà trường để nhiều học sinh không được rèn rũa, bố mẹ phó mặc cho nhà trường, các em không có thái độ học tập nghiêm túc, lại ngang bướng, không sợ thầy cô và chỉ có một giải pháp “Mackeno” (mặc kệ nó), nhiều cháu chậm phát triển hay một số bệnh lý tâm thần vẫn cho học qua các cấp học, phải làm rõ và thực hiện bằng được “chuẩn đầu ra” chúng ta mới có một nền giáo dục có chất lượng. Có lẽ trong giáo dục hiện nay cũng cần phải làm rõ: chủ động, sáng tạo nhưng không được tuỳ tiện, vô trách nhiệm; Giữa chuẩn mực và linh hoạt, linh động… Hiện nay số học sinh khuyết tật ngày một tăng nhưng nhà nước chưa chú ý đầu tư cho những trường giáo dục đặc biệt. Xã hội đang phó mặc cho cha mẹ học sinh và các trung tâm giáo dục đặc biệt của tư nhân gánh chịu.
Công lao của GS.VS. Phạm Minh Hạc với sự nghiệp KHGD VN là hết sức to lớn, không thể kể siết, với tôi thầy còn là vị ân sư đáng kính giúp tôi thực hiện những hoài bão, ước mơ đóng góp cho sự phát triển KH TLGD VN. Tôi mong muốn gửi đến Thầy tấm lòng tri ân sâu sắc, kính mong Thầy có sức khoẻ để tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Chúng tôi nguyện với Thầy sẽ tiếp tục gieo trồng những minh triết của Thầy trong thực tế đời sống học đường Việt Nam
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2024
Tài liệu tham khảo
- VS. Phạm Minh Hạc (2001)
+ “Về con người trong công cuộc đổi mới thuộc đề tài KX-07
+ “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào Công nghiệp hoá – hiện đại hoá” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2001)
+ Về phát triển con người đi vào Công nghiệp hoá – hiện đại hoá (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2001)
- VS. Phạm Minh Hạc – PGS. Phạm Văn Kha, chủ biên (2013) (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – 2013)
- VS. Phạm Minh Hạc, chủ biên (2013). Từ điển Bách khoa Tâm lý giáo dục học Việt Nam (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – 2013)
- Nguyễn Tùng Lâm (2003). “Phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém đạo đức của học sinh THPT hiện nay” Luận án TS giáo dục học.
