A. Đặt vấn đề
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến
1.1. Xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước
-
Nghị quyết Trung ương 2: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học”.
-
Luật Giáo dục, điều 24.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
-
Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:
-
a. Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
-
b. Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
-
1.2. Xuất phát từ thực trạng của việc giảng dạy Lịch sử ở bậc Trung học cơ sở Ở các trường học, giáo viên ngoài việc lựa chọn những kiến thức cơ bản để giảng dạy, còn phải trang bị cho học sinh các phương pháp học tập hiệu quả. Nhờ đó, học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, biết cách nắm bắt tri thức cũng như giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Để giúp người học tiếp thu kiến thức hiệu quả và hệ thống hóa kiến thức trong suốt mỗi giai đoạn lịch sử, giáo viên có thể sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Hiện nay, có rất nhiều phương pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học như: Phương pháp dạy học nêu vấn đề, Dạy học theo Mô-đun (Module), Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ, Phương pháp dạy học tình huống, Phương pháp sơ đồ… Bên cạnh đó, có nhiều kĩ thuật dạy học tích cực như: Kĩ thuật đặt câu hỏi, Kĩ thuật khăn trải bàn, Kĩ thuật mảnh ghép, Sơ đồ tư duy…
Tất cả các phương pháp và kĩ thuật nêu trên đều có ưu điểm và hiệu quả cao. Tùy thuộc vào nội dung kiểu bài và đối tượng người học, giáo viên cần phối hợp nhuần nhuyễn sao cho phù hợp. Trong đó, Sơ đồ tư duy là công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài, đồng thời là phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả.
Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy và học giúp phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp, giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu thay vì học vẹt. Đặc biệt trong môn Lịch sử, với lượng kiến thức lớn nhưng thời gian hạn hẹp, việc sử dụng Sơ đồ tư duy để dạy tự học là rất cần thiết. Hơn nữa, xuất phát từ đặc thù đơn vị: Một số bộ môn như Lịch sử và Địa lí, Công nghệ, Giáo dục công dân, Hoạt động trải nghiệm được bố trí giảng dạy trực tuyến, nên việc sử dụng Sơ đồ tư duy càng trở nên quan trọng.
1.3. Xuất phát từ đặc thù của nội dung, chương trình phần Lịch sử ở bậc Trung học cơ sở Bộ sách Chân trời sáng tạo môn Lịch sử và Địa lí (phần Lịch sử) mà đơn vị lựa chọn giảng dạy có nhiều nội dung mới cập nhật, cách trình bày khác biệt so với trước đây:
-
Nhiều hình ảnh hơn, có ảnh màu và hình ảnh mới so với chương trình 2016.
-
Bố cục logic theo trình tự thời gian. Mỗi giai đoạn lịch sử bắt đầu bằng Lịch sử thế giới, sau đó đến Lịch sử dân tộc.
-
Nội dung ngắn gọn, một số phần mang tính khái quát, không đi sâu chi tiết.
-
Mỗi bài đều thể hiện yêu cầu cần đạt; tình huống tạo hứng thú; nội dung bài học đa dạng kênh thông tin với hệ thống câu hỏi giao nhiệm vụ học tập giúp học sinh khám phá kiến thức mới. Sách có nhiều tư liệu lịch sử, sơ đồ, lược đồ, bảng biểu… sắp xếp theo thứ tự bài học, cùng kiến thức bổ trợ, nâng cao và liên hệ thực tế.
-
Hoạt động Luyện tập có câu hỏi, bài tập thực hành để củng cố kiến thức. Hoạt động Vận dụng yêu cầu sử dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn.
Đây là những điểm mới trong Chương trình sách giáo khoa 2018, giúp người học tự học dễ dàng và thuận lợi hơn.
1.4. Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống Trong cuộc sống, phần lớn chúng ta trưởng thành nhờ nỗ lực học tập, nhưng quá trình này vô cùng vất vả. Hằng ngày, học sinh phải tiếp thu lượng kiến thức khổng lồ từ nhiều bộ môn. Có môn dễ học, nhưng cũng có môn khó nhớ, nội dung dài khiến các em học mãi không thuộc.
Bản thân tôi có con đang học phổ thông. Thỉnh thoảng khi dò bài môn Lịch sử, tôi thấy nội dung bài học dài khoảng ba trang giấy, con không thể nhớ nổi. Tôi phải dành thời gian đọc và tóm tắt lại dưới dạng sơ đồ, từ đó con học dễ dàng hơn. Tôi suy nghĩ: “Nếu trong bài soạn của mình, tất cả nội dung đều được sơ đồ hóa thì học sinh sẽ dễ học hơn nhiều”. Từ đó, tôi dành thời gian tự tìm tòi, nghiên cứu các dạng sơ đồ tư duy phù hợp để chuyển nội dung bài học về dạng ngắn gọn, cô đọng.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực học sinh qua sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học môn Lịch sử và Địa lí (phần Lịch sử)”.
2. Khẳng định tính mới của đề tài Có thể nói: Bản đồ tư duy (hay Sơ đồ tư duy) là công cụ để tổ chức tư duy và tìm ra phương cách xử lý vấn đề. Công việc này đòi hỏi sự động não; nó là công cụ để nắm bắt thông tin liên quan, cho phép “nén” một khối lượng lớn thông tin. Ví dụ, nó giúp xác định nội dung cần ghi chép, lập kế hoạch, giúp tiếp thu và vận dụng thông tin dễ dàng hơn (như ghi nhớ nội dung sách, lịch trình làm việc…). Đây cũng là công cụ hữu hiệu để truyền đạt trong thuyết trình hay dự án nhóm.
Từ công dụng hữu ích đó, tôi đã sử dụng Sơ đồ tư duy như một công cụ chính và kĩ thuật dạy học thường xuyên để giúp học sinh ghi nhớ, khắc sâu trọng tâm bài học. Ngoài ra, tôi hướng dẫn học sinh sáng tạo sơ đồ tư duy trong tự học. Sau khi tự tạo sơ đồ, các em sẽ thuyết trình (theo nhóm) kết hợp với các phương tiện khác để hoàn thành nhiệm vụ. Qua đó, học sinh hình thành và rèn luyện được nhiều năng lực: giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, tự học, nghiên cứu khoa học Lịch sử, ứng dụng công nghệ thông tin, rèn luyện ngôn ngữ và sự tự tin. Đây chính là điểm mới mà tôi mong muốn hướng tới nhằm đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
B. Nội dung
1. Cơ sở khoa học Sơ đồ tư duy là công cụ tổ chức tư duy, là con đường dễ nhất để chuyển tải thông tin vào và ra khỏi bộ não, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo. Sơ đồ tư duy phục vụ các mục đích:
-
Tìm hiểu những gì ta biết, xác định các khái niệm then chốt, giúp ghi nhớ bền vững.
-
Trợ giúp lập kế hoạch thông qua việc tổ chức, tập hợp ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng.
-
Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình suy nghĩ về những yếu tố chính.
Trong dạy học, ngôn ngữ Sơ đồ có nhiều ưu điểm:
-
Vừa cụ thể, trực quan, chi tiết nhưng cũng vừa khái quát, trừu tượng và có tính hệ thống cao.
-
Đối với giáo viên:
-
Thường xuyên nhận được thông tin phản hồi từ học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy học kịp thời.
-
Điều chỉnh tối ưu quá trình tư duy của học sinh.
-
Nắm bắt nhanh năng lực tư duy và nhận thức của học sinh để có biện pháp hỗ trợ phù hợp.
-
Phát hiện kịp thời sự tiến bộ hoặc sút kém của học sinh.
-
-
Đối với học sinh:
-
Rèn luyện kĩ năng, thao tác tư duy logic, kĩ năng đọc sách và tự nghiên cứu tài liệu.
-
Rèn kĩ năng hợp tác nhóm, tự giải quyết vấn đề và sáng tạo sản phẩm (sơ đồ, bài thuyết trình).
-
Nâng cao nhu cầu nhận thức và trách nhiệm trong học tập.
-
Có phương pháp tái tạo kiến thức, biết cách tìm kiếm tri thức và phát triển năng lực tự học suốt đời.
-
Tăng tốc độ định hướng và tính mềm dẻo của trí tuệ (nhanh trí giải quyết tình huống).
-
Rèn phương pháp tư duy khái quát để ứng dụng sang các môn học khác.
-
2. Thực hiện
2.1. Phát triển năng lực học sinh qua sử dụng Sơ đồ tư duy trong khâu nghiên cứu, khám phá, hình thành kiến thức mới
2.1.1. Sử dụng Sơ đồ tư duy hoàn chỉnh
-
Bước 1: Giáo viên cung cấp Sơ đồ hoàn chỉnh.
-
Bước 2: Giáo viên đưa ra hệ thống hoạt động phân tích, khai thác Sơ đồ kết hợp các phương pháp dạy học tích cực. Hoặc nhóm học sinh tự nghiên cứu, thiết kế bài học theo hình thức thuyết trình.
-
Bước 3: Học sinh tự làm việc, trình bày kết quả trước lớp.
-
Bước 4: Giáo viên nhận xét, sửa chữa (nếu có), kết luận và bổ sung hoàn chỉnh nội dung bài.
2.1.2. Sử dụng Sơ đồ tư duy khuyết
-
Bước 1: Giáo viên cung cấp Sơ đồ khuyết (thiếu nội dung).
-
Bước 2: Giáo viên đưa ra hệ thống hoạt động phù hợp.
-
Bước 3: Học sinh tự lực làm việc, hoàn chỉnh từng phần của Sơ đồ.
-
Bước 4: Giáo viên kết luận và hoàn chỉnh Sơ đồ.
2.2. Phát triển năng lực học sinh qua sử dụng Sơ đồ tư duy trong khâu luyện tập, củng cố kiến thức
-
Bước 1: Giáo viên cung cấp Sơ đồ hoàn chỉnh hoặc Sơ đồ khuyết.
-
Bước 2: Học sinh dựa vào kiến thức đã học để đọc nội dung hoặc hoàn thành Sơ đồ.
-
Bước 3: Học sinh bổ sung và giáo viên kết luận.
2.3. Phát triển năng lực học sinh qua sử dụng Sơ đồ tư duy trong khâu kiểm tra, đánh giá
-
Bước 1: Giáo viên cung cấp Sơ đồ khuyết hoặc Sơ đồ câm.
-
Bước 2: Học sinh hoàn chỉnh Sơ đồ.
-
Bước 3: Giáo viên nhận xét, đánh giá.
2.4. Phát triển năng lực học sinh qua việc tự học sinh xây dựng Sơ đồ tư duy
-
Bước 1: Giáo viên phân công nhiệm vụ cho nhóm học sinh.
-
Bước 2: Nhóm học sinh hoàn thành sản phẩm.
-
Bước 3: Học sinh báo cáo, trình bày sản phẩm.
-
Bước 4: Kết luận.
3. Kết quả, hiệu quả mang lại
a. Về kinh tế
-
Học sinh ghi bài ngắn gọn, cô đọng, giúp tiết kiệm giấy, vở.
-
Tiết kiệm thời gian: Sơ đồ tư duy giúp tổ chức kiến thức trực quan, rút ngắn thời gian ôn tập.
-
Giáo viên sử dụng sơ đồ dạng hình ảnh, phần mềm thay thế đồ dùng dạy học truyền thống, giảm chi phí chuẩn bị.
b. Về xã hội (Hiệu quả giáo dục)
-
Giúp giáo viên thiết kế Kế hoạch bài dạy khoa học, logic, hấp dẫn và chủ động thời gian tiết dạy.
-
Dễ dàng kiểm tra, đánh giá việc ghi nhớ của học sinh.
-
Giáo viên và học sinh biết thêm nhiều phần mềm thiết kế sơ đồ tư duy.
-
Rèn luyện cho học sinh:
-
Phương pháp tự học, tự nghiên cứu, thói quen đọc sách.
-
Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, thuyết trình, tương tác.
-
Tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập đối với bộ môn (vốn có nội dung dài).
-
Năng lực tư duy logic, sáng tạo, ghi nhớ lâu và sâu sắc hơn thay vì học vẹt.
-
Sự tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp với thầy cô, bạn bè.
-
-
Phụ huynh dễ dàng theo dõi, kiểm tra bài vở của con em mình.
Nguyễn Thị Lan Anh
Trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai – Thủ Dầu Một – TP Hồ Chí Minh
